Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành

1. BỐI CẢNH CHUNG
Việt Nam là một trong những dân tộc rất yêu chuộng văn hoá và có truyền thống văn hoá lâu đời. Từ trước khi cách mạng dân tộc thành công, đã có một văn kiện kiểu như Đề cương về văn hóa Việt Nam được công bố rõ ràng như ở Việt Nam năm 1943.
Trước năm 1945, việc giảng dạy văn hoá Việt Nam đã được bắt đầu ở Trường Đại học Đông Dương với giáo trình Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1938). Trong những năm 1960 và những năm đầu 1970, tại Đại học Văn khoa Sài Gòn và một số trường đại học miền Nam, công việc này được tiếp tục với những bài giảng đầy tâm huyết của các giáo sư Kim Định, Lê Văn Siêu.
Đến những năm 1980, tiến trình toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt dẫn đến hệ quả là việc bảo tồn văn hóa dân tộc trở thành đối tượng quan tâm ngày càng mạnh mẽ của các dân tộc và quốc gia trên khắp thế giới. Phản ánh tình trạng này, Đại hội đồng Liên hiệp quốc họp tháng 12-1986 đã quyết định phát động Thập kỷ phát triển văn hóa thế giới 1988 – 1997.

2. TỪ CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM ĐẾN VĂN HÓA HỌC
Năm 1990, lần đầu tiên chương trình môn học Cơ sở văn hoá Việt Nam đã được Trần Ngọc Thêm xây dựng (thông qua ngày 25-9-1990). Năm 1991, ấn bản đầu tiên của cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam do Trần Ngọc Thêm biên soạn đã được Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội xuất bản (lưu hành nội bộ).

Năm 1995 tại Hội nghị Chương trình Đại học Đại cương của Bộ Giáo dục và Đào tạo họp tại Đà Lạt, Tên môn học Cơ sở văn hoá Việt Nam và chương trình môn học do Trần Ngọc Thêm xây dựng cho khối đại học ngoại ngữ năm 1990, với một số bổ sung và sửa chữa, đã được công nhận làm chương trình chính thức của môn học này cho toàn bộ hệ thống đại học Việt Nam. Sau hội nghị, Ban chương trình đã bổ sung thêm Chương trình Cơ sở văn hoá Việt Nam thứ hai do Trần Quốc Vượng soạn thảo. Cùng năm, giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm được Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM xuất bản, cuốn hút sự quan tâm rộng rãi của công luận. Ở dạng rút gọn, giáo trình này được Trường tái bản năm 1996 và NXB Giáo dục xuất bản năm 1997. Trong năm 1997, giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ biên cũng được biên soạn và xuất bản. Năm 2002 có thêm giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam do Chu Xuân Diên biên soạn (Trường ĐH KHXH-NV xuất bản).
Trong bối cảnh khi mà vấn đề văn hoá hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi việc, BCH TƯ Đảng CSVN khóa VIII trong phiên họp vào tháng 7 năm 1998 đã thông qua Nghị quyết 5 về việc "Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Sự ra đời của Nghị quyết 5 của BCH TW Đảng như một bản đề cương văn hóa mới cho thấy việc bảo tồn và phát triển văn hoá không còn là công việc của riêng ai. Nó đã trở thành nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Ở khu vực phía Nam, đáp ứng nhu cầu này là trách nhiệm của Đại học Quốc gia TP. HCM, mà cụ thể là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, với tư cách là một trong hai trung tâm đào tạo hàng đầu về khoa học xã hội và nhân văn của cả nước.

3. MỞ NGÀNH VÀ THÀNH LẬP BỘ MÔN
Trước tình hình đó, năm 1999, khoa Đông phương học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (lúc đó trưởng khoa là Bùi Khánh Thế với hai phó trưởng khoa là Đinh Lê Thư và Trần Ngọc Thêm) đã đưa ra đề án mở ngành đào tạo thạc sĩ văn hoá học. Đúng lúc đề án được phê duyệt thì Trần Ngọc Thêm được mời đi giảng dạy tại Trường Đại học Quốc tế học Hàn Quốc (Hankuk University of Foreign Studies) ở Seoul trong hai năm 2000-2001. Bởi vậy trong hai năm này việc quản lý ngành đào tạo cao học văn hoá học đã được Trường giao cho Bộ môn Văn học Dân gian (do Chu Xuân Diên phụ trách) thuộc Khoa Ngữ văn - Báo chí.
Đầu năm 2002, sau khi Trần Ngọc Thêm từ Hàn Quốc trở về, Bộ môn Văn hóa học trực thuộc Trường đã được chính thức thành lập theo quyết định số 96/QĐ-TCCB ký ngày 18-4-2002. Trần Ngọc Thêm, Trưởng Khoa Đông phương học, được giao kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Bộ môn Văn hoá học trực thuộc. Đến tháng 7-2003, ông đã chủ động xin thôi chức Trưởng Khoa Đông phương học để tập trung xây dựng ngành văn hoá học.

4. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC
Từ năm 2003, Bộ môn Văn hóa học đã đưa trình đề án mở ngành đào tạo cử nhân văn hoá học (bậc đại học). Cho đến tháng 12-2006, Bộ môn Văn hóa học đã hai lần tổ chức hội thảo bàn về việc mở ngành đào tạo đại học văn hoá học. Mỗi năm đều đưa ra sửa chữa và hoàn chỉnh một lần – tổng cộng đến tháng 12-2006, Bộ môn Văn hóa học đã sửa chữa, hoàn chỉnh và đưa trình tới lần thứ tư . Và cuối cùng, ngày 30-11-2006 Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. HCM Nguyễn Đức Nghĩa đã ký quyết định số 1145/QĐ-ĐHQG-ĐT cho phép Bộ môn Văn hóa học mở ngành đào tạo cử nhân văn hoá học hệ chính quy từ năm 2007.
Đồng thời, sau 6 năm đào tạo và đã có khoá cao học thứ 7, một số lượng lớn thạc sĩ văn hoá học đã tốt nghiệp ra trường. Một bộ phận không nhỏ trong số họ có nhu cầu được đào tạo tiếp ở bậc tiến sĩ. Đáp ứng nguyện vọng này, tháng 10-2006 Bộ môn Văn hóa học đã trình đề án mở hệ đào tạo tiến sĩ văn hoá học. Đề án này đã được thông qua tại phiên họp của Hội đồng xét duyệt mở ngành đào tạo sau đại học cấp ĐHQG-HCM do Phó Giám đốc phụ trách ĐHQG-HCM Phan Thanh Bình chủ trì vào ngày 26/01/2007.
Như vậy, từ tháng 1-2007, Bộ môn Văn hoá học Đại học Quốc gia TP. HCM chính thức tiến hành đào tạo ở cả ba hệ: đại học - cao học và nghiên cứu sinh.
Ngày 24-10-2008, Giám đốc ĐHQG TP. HCM Phan Thanh Bình đã ký quyết định số 1198/QĐ-ĐHQG-TCCB về việc Thành lập Khoa văn hoá học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Tp.HCM trên cơ sở Bộ môn Văn hóa học. Như vậy, sau 8 năm tồn tại hệ cao học, 6 năm tồn tại Bộ môn Văn hóa học, 2 năm tồn tại hệ đại học và nghiên cứu sinh, đến tháng 10-2008 ngành Văn hóa học ĐHQG TP. HCM đã có được một tổ chức hoàn chỉnh tương xứng với chức năng và nhiệm vụ mà lâu nay thực hiện. Lần đầu tiên trong hệ thống Đại học Quốc gia Việt Nam có được một ngành đào tạo Văn hóa học ở cả ba cấp và một Khoa Văn hóa học.
Ngày 3-11-2008, Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH-NV Võ Văn Sen đã ký quyết định thành lập 4 bộ môn thuộc khoa Văn hóa học và bổ nhiệm các trưởng Bộ môn:
Bộ môn Lý luận văn hóa do GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm kiêm Trưởng Bộ môn
Bộ môn Văn hóa Việt Nam do TS. Nguyễn Văn Hiệu làm Trưởng Bộ môn
Bộ môn Văn hóa Thế giới do TS. Đinh Thị Dung làm Trưởng Bộ môn
Bộ môn Văn hóa ứng dụng do PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền kiêm Trưởng Bộ môn

5. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ
Tiếp theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, từ năm 2002, các thành viên được nhận về Bộ môn/Khoa Văn hóa học lần lượt như sau:
Năm 2002:
2) CN. Nguyễn Ngọc Thơ (từ khoa Đông phương học, bảo vệ ThS. Văn hoá học tại bộ môn tháng 12-2003, bảo vệ luận án TS. Văn hoá học tháng 2-2012),
3) CN. Lê Thuỳ Trang (tốt nghiệp Khoa Đông phương học ở Hà Nội, bảo vệ ThS. Văn hoá học tháng 1-2006),
4) TS. Phan Thị Thu Hiền (từ khoa Ngữ văn và Báo chí, được bổ nhiệm làm Phó trưởng Bộ môn Văn hoá học tháng 2-2003 và được phong PGS tháng 11-2003).
Năm 2003:
5) TS. Nguyễn Văn Hiệu (từ Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi)
6) TS. Lê Trung Hoa (từ Viện KHXH tại TP. HCM, được phong PGS tháng 11-2003).
Năm 2004:
7) CN. Ngô Anh Đào (tốt nghiệp Khoa ngữ văn, học cao học Văn hoá học khóa 2005-2008).
8) TSKH. Phan Đình Tân (từ Nga về)
Năm 2005:
9) CN. Phan Anh Tú (từ Bảo tàng LSVN TP. HCM, bảo vệ ThS. Văn hoá học tháng 11-2005, bảo vệ TS Văn hoá học ngày 20.11.2014),
10) TS. Đinh Thị Dung (từ khoa lịch sử Đại học KH Huế)
11) ThS. Nguyễn Thị Phương Duyên (HVCH giữ lại, bảo vệ ThS. Văn hoá học tháng 9-2005).
Năm 2006:
- Tháng 10, TSKH. Phan Đình Tân thôi việc, chuyển về UBND TP. Đà Nẵng, còn 10 người.
11) TS. Trần Ngọc Khánh (từ Viện KHXH tại TP. HCM).
Năm 2007:
12) Nguyễn Thị Thuý Vy (HVCH giữ lại, từ 1-10, bảo vệ ThS. Văn hoá học tháng 12-2007)
- Tháng 11, ThS. Lê Thuỳ Trang thôi việc định cư tại Mỹ, còn lại 11 người.
Năm 2008:
12) TS. Trần Long (từ Học viện CT-HC quốc gia HCM, về ngày 1-1-2008)
13) ThS. Lê Thị Ngọc Điệp (ThS. Văn hoá học, từ Phòng SĐH-QLKH về ngày 7-1-2008, bảo vệ luận án tiến sĩ văn hoá học, ngày 19-5-2014).
- Tháng 2-2008: PGS.TS. Lê Trung Hoa chuyển công tác sang khoa Ngữ văn, còn lại 12 người.
13) TS. Lý Tùng Hiếu (từ Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ về vào tháng 9).
14) CN. Nguyễn Thị Tuyết Ngân (về tháng 11, bảo vệ ThS. văn hoá học tại bộ môn tháng 12-2009),
15) ThS. Trần Duy Khương (về tháng 11, bảo vệ ThS. văn hoá học tại bộ môn).
Năm 2009:
16) ThS. Lê Thị Trúc Anh (nguyên là Phó trưởng Khoa CNXHKH, Trưởng BM Văn hóa - Xã hội Trường Cán bộ TP. HCM về tháng 1).
17) ThS. Trần Phú Huệ Quang (từ Trường Đại học An Giang chuyển về tháng 3); bảo vệ luận án tiến sĩ ngày 25-3-2014.
Năm 2010:
18) ThS. Trương Thị Lam Hà (Học viên cao học VHH khóa 7, bảo vệ LV ThS ngày 22-12-2009, về Khoa từ 1-2-2010).
19) TS. Nguyễn Ngọc Trân Châu (TS ngữ văn Anh tại Moskva, Nga năm 2002, về Khoa từ 1-2-2010).
- Ngày 15-3-2010, PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền được Trường điều động sang làm Trưởng Bộ môn Hàn Quốc học trực thuộc Trường, còn lại 18 thành viên.
19) PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên, nguyên phó viện trưởng Viện Văn hóa - Nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Hà Nội) là giảng viên hợp đồng của khoa từ 1-8-2010.
20) CN. Nguyễn Hữu Duy Viễn (CN ngành Bản đồ - Viễn thám & GIS, về khoa từ 1-9-2010, HVCH Tài nguyên môi trường khóa 2010).
Năm 2011:
- Tháng 2-2011: ThS. Trần Duy Khương chuyển công tác theo nguyện vọng cá nhân, còn lại 19 người.
- Tháng 6-2011: TS. Nguyễn Ngọc Trân Châu chuyển công tác về Khoa Ngữ văn Anh, còn lại 18 người.
19) ThS. Bạch Thị Thu Hiền (từ Đại học Quốc gia TP. HCM chuyển về tháng 6-2011)
20) CN. Phạm Anh Văn (học viên cao học Văn hóa học về tháng 6-2011)
Năm 2012:
- Tháng 2-2012: CN. Phạm Anh Văn chuyển công tác theo nguyện vọng cá nhân, còn lại 19 người.
- Tháng 3-2012: ThS. Nguyễn Thị Tuyết Ngân chuyển công tác, còn lại 18 người.
19) CN. Nguyễn Trọng Hùng (Cử nhân ngành Xã hội học, về khoa từ 15-3-2012).
20) TS. Huỳnh Quốc Thắng, nguyên Hiệu trưởng Cao đẳng Văn hoá - Nghệ thuật TP. HCM, là giảng viên hợp đồng của khoa từ 1-4-2012.
- Tháng 4-2012: GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm chuyển công tác về khoa Đông Phương học, còn lại 19 người.
- Tháng 8-2012: CN. Nguyễn Hữu Duy Viễn kết thúc hợp đồng, còn lại 18 người.
- ThS Nguyễn Thị Thuý Vy chuyển công tác về Trung tâm nghiên cứu Văn hoá học ứng dụng & lý luận.
- TS. Đinh Thị Dung chuyển công tác về Khoa Việt Nam học.
- Tháng : TS Nguyễn Ngọc Thơ chuyển công tác về Phòng Quản lý Khoa học - Dự án.
- Tháng : CN Nguyễn Thị Kim Liên chuyển công tác từ Thư viện trường về Khoa.
- Tháng 15-3-2015: CN Quách Thuyên Nhã Uyên (HVCH) về Khoa.

Tổng cộng, đến 01-07-2015 Khoa Văn hóa học có đội ngũ viên chức với 15 thành viên
Khoa Văn hóa học
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.