Trần Ngọc Khánh. Hiện tượng cặp đôi trong văn hóa

Hiện tượng “cặp đôi” trong văn hóa
và ngành học “Văn hóa đô thị”

Trần Ngọc Khánh

Tóm tắt: Văn hóa làm biến đổi xã hội, phát triển nhiều lĩnh vực đời sống. Song thực thể xã hội và các lĩnh vực đời sống không thuộc về chức năng của văn hóa. Con người là chủ thể hoạt động, tạo nên các thành quả được gọi là văn hóa. Văn hóa là thuộc tính của con người, luôn vận động, biến đổi do tác nhân hoạt động của con người. Đối tượng của văn hóa không phải con người, mà là các hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của con người. Đó là hệ quả tiến hóa giữa con người và văn hóa, không thể đảo ngược, cấu thành hiện tượng “cặp đôi”.

Nếu cặp đôi văn hóa văn minh đánh dấu các thành quả hoạt động của con người qua từng thời kỳ, thì cặp đôi văn hóa đô thị biểu thị quá trình tăng trưởng môi trường sống, làm cho đời sống ngày càng văn minh, tiến bộ.

Từ khóa: cặp đôi (dualities), văn hóa văn minh (culture and civilization), văn hóa đô thị (urban culture)

Đặt vấn đề

Văn hóa thường được định nghĩa là khái niệm trừu tượng, mang ý nghĩa phức hợp về phương diện vật chất lẫn tinh thần, có tính chất tổng hòa toàn thể hoạt động của con người.

Mặc dù vậy, có thời kỳ người ta đồng nhất khái niệm văn hóa và văn minh (E.B. Tylor, 1871); hoặc coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu thuộc về kiến trúc thượng tầng mà bỏ qua yếu tố vật chất, tách rời thực tiễn đời sống; khu biệt văn minh là trình độ phát triển về phương diện vật chất, kỹ thuật mà bỏ qua yếu tố tinh thần, khiến “cặp đôi” văn hóa văn minh trở thành hai thực thể đồng đẳng, thiếu tính tương tác.

Theo Jacques Rigaud (1993), “Văn hóa là phạm vi, không phải lĩnh vực”[1]. Nhưng không hiếm khi văn hóa được khoanh lại như là một lĩnh vực hoạt động, phân biệt với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, v.v; thu hẹp văn hóa trong một số hoạt động riêng lẻ, xa cách dần khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng. Âu đó cũng là lẽ thường, do đời sống phát triển muôn mặt, nhưng không phải vì vậy mà ngộ nhận về bản chất của văn hóa.

Hiện tượng ghép đôi trong văn hóa và “cặp đôi” văn hóa văn minh

Trong thực tiễn phát triển đời sống, con người nhận thức các quy luật vận động, chuyển hóa của thế giới tự nhiên theo từng cặp như: trời – đất, đực – cái, nam – nữ hoặc âm – dương, mưa – nắng, tối – sáng, dọc – ngang, v.v. cấu thành ý nghĩa phức hợp thuộc về bản chất của văn hóa. Trong đó, vạn vật sinh sôi nảy nở là thành quả của sự vận động, giao hòa, giao phối của “cặp đôi”, thông qua tác nhân hoạt động của con người[2].

Do vậy, cho đến nay vẫn tồn tại phổ biến hiện tượng ghép đôi văn hóa với một khái niệm khác như: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa giao tiếp, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa truyền thông, văn hóa giải trí, v.v. Tuy nhiên, người ta thường khu biệt bộ phận ghép thêm này là lĩnh vực đặc thù của văn hóa, mà không phải biểu hiện thành quả hoạt động của con người nhờ có văn hóa!

Quan niệm này đồng nhất phần ghép thêm với văn hóa, không chỉ ra quan hệ tương tác của “cặp đôi”; cho rằng phần ghép thêm có quan hệ đồng đẳng, thực chất là tách rời riêng rẽ ý nghĩa phức hợp, tổng hòa của văn hóa; hoặc “văn hóa hóa” (enculturation), coi phần ghép thêm là bộ phận phụ thuộc, thuộc về chức năng của văn hóa; kể cả đảo ngược vị trí cặp đôi, làm cho văn hóa là thuộc tính của hoạt động, mà không phải bản thân hoạt động ấy.

Trong nhiều trường hợp, người ta còn sử dụng thêm liên từ “và” hoặc giới từ “của”, “ở”, “trong” làm gạch nối của cặp đôi. Nhưng hóa ra là tách rời cặp đôi, làm cho văn hóa trở thành thực thể riêng biệt, từ đó coi văn hóa là tác nhân, động lực chi phối chủ đạo hoặc là hiện tượng cục bộ, giới hạn văn hóa trong một lĩnh vực hoạt động; phần ghép sau tưởng chừng là phạm trù độc lập, tồn tại bên ngoài văn hóa, là đối tượng của các hoạt động văn hóa, đánh mất tính tương tác của “cặp đôi”.

Quan niệm ghép đôi như vậy có thể quy chiếu vào quyết định luận văn hóa, coi văn hóa là trung tâm, đề cao các giá trị tĩnh tại, có tính ổn định, bất biến; phần ghép thêm là thuộc tính, thuộc về chức năng của văn hóa, vô hình trung coi con người đối tượng, sản phẩm của văn hóa!

Khác với quan niệm trên là nhận thức cặp đôi cấu thành thực thể trừu tượng, “tuy hai mà một”, quy định bản chất không tách rời, luôn vận động, chuyển hóa đối với các hoạt động của con người; phần ghép sau là thành tố biểu thị thành quả văn hóa trong một thời kỳ, phạm vi hoặc trên một lĩnh vực, ngoài khả năng tự thân vận động, còn có chức năng tác động trở lại để hoàn thiện con người, mang lại ý nghĩa cho đời sống, làm cho văn hóa phát triển.

Hiện tượng ghép đôi này có lẽ do sự xuất hiện đầu tiên của “cặp đôi” văn hóa văn minh, dẫn đến các quan niệm khác nhau về văn hóa nói chung và đối với hiện tượng “cặp đôi” trong văn hóa nói riêng.

Trong cặp đôi văn hóa văn minh[3], văn minh là một thành tố của văn hóa, biểu hiện các thành quả mà con người có được ở một thời kỳ nhất định. Trong quan hệ giữa văn hóa và văn minh, văn minh biểu thị “trình độ phát triển” của văn hóa, về vật chất lẫn tinh thần, đòi hỏi con người điều chỉnh các hoạt động và thích ứng đời sống của mình theo các quy định, nguyên tắc, giá trị khuôn mẫu của thời đại. Trong tương quan này, theo Bonnemaison (2000), văn hóa là cái có trước (?), tồn tại dưới bốn dạng thức: cái còn lại, cái thành quả, cái thu hoạch và cái di sản của quá khứ. Văn minh là bộ phận kết tinh, “chín muồi” của văn hóa, mang tính thời đại, phổ quát và tiến bộ.

Tuy nhiên, cặp đôi này từng có nhiều cách hiểu khác nhau. Ở Đức vào thế kỷ XVIII đối lập văn hóa với văn minh, tách riêng văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần, văn minh thuộc lĩnh vực vật chất; ở Pháp trong thế kỷ Ánh sáng đồng nhất văn hóa với văn minh; trong khi ở Ý và Đức đề cao văn hóa truyền thống, coi “văn hóa là tâm hồn dân tộc”, hình thành các phong trào Phục hưng (thế kỷ XIV-XVII), các chính sách phổ cập văn hóa ở Tây Âu (giữa thế kỷ XX), cách mạng văn hóa những năm 1960 ở Trung Quốc; hoặc quan niệm nhùng nhằng giữa cũ và mới, coi văn hóa là bản sắc “bất biến”, dẫn đến hiện tượng phục hồi lễ hội tràn lan, đi ngược lại các giá trị văn minh, tiên tiến như thời gian qua ở nước ta.

Trong quan hệ tương tác của “cặp đôi” văn hóa văn minh, con người vừa là nhân vừa là quả: vừa là chủ thể sáng tạo nhờ có văn hóa, vừa là sản phẩm được hoàn thiện do yêu cầu thích ứng với văn minh. Trong tương quan này, con người là chủ thể của văn hóa, văn hóa là sản phẩm thành quả của con người. Do vậy, không thể quan niệm ngược lại coi văn hóa sáng tạo ra con người theo chủ nghĩa duy tâm siêu hình; hoặc theo quyết định luận văn hóa coi phần ghép thêm thuộc về chức năng của văn hóa.

Văn minh là bộ phận không tách rời văn hóa. Đó không phải thuộc tính mà biểu thị thành quả văn hóa, là đối tượng và mục tiêu trong các nỗ lực hoạt động tạo lập và phát triển đời sống của con người. Đó là quan hệ tương tác của cặp đôi, trong đó:

A  B; B’  A

(A là con người, bao hàm B là văn hóa; B’ là văn minh, bao hàm A là con người. Do đó, B và B’ là một “cặp đôi”).

 “Cặp đôi” văn hóa đô thị

Cũng vậy, cặp đôi văn hóa đô thị là một toàn thể không tách rời thuộc phạm trù văn hóa. Tính chất cặp đôi làm cho đô thị trở thành khái niệm trừu tượng, không dừng lại trong phạm vi đô thị, không hạn hẹp trong các hoạt động văn hóa đô thị hoặc tính văn hóa của đô thị (urbanité). Sự ghép đôi với thành tố văn hóa làm cho đô thị có bề dày của quá trình tăng trưởng, mang tính nhân văn; ngược lại, thành tố đô thị làm cho văn hóa luôn biến chuyển, gắn với thực tiễn phát triển đời sống.

Sự khác nhau giữa tăng trưởng và phát triển làm cho văn hóa đô thị khác với văn minh đô thị. Văn hóa đô thị có quá trình liên tục, kết nối truyền thống với hiện đại, tổng hòa các hoạt động của con người trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai, làm môi trường sống tăng trưởng bền vững; ngược lại, văn minh đô thị đặt ra các yêu cầu thích ứng, đổi mới, hòa nhập, để con người phát triển và đời sống tiến bộ (Trần Ngọc Khánh, 2012).

Đô thị không đánh đồng với văn hóa, mà được ví như “thiên nhiên thứ hai”, là “phiên bản” của thế giới tự nhiên, vì bao hàm ba yếu tố: môi trường sống do con người tạo lập, không tách rời thế giới tự nhiên; vận hành theo quy luật vận động, chi phối của tự nhiên; tác nhân hoàn thiện con người, phát triển đời sống.

Đô thị ra đời khi con người “có văn hóa”, tức là kể từ khi họ có ý thức và có điều kiện tạo lập đời sống của mình. Đô thị không ngừng chuyển động trong không gian và tiến hóa theo thời gian do tác nhân hoạt động của con người và nhờ con người có tiền đề là văn hóa.

Nói cách khác, trong văn hóa đô thị, các nỗ lực hoạt động của con người là nhân tố chủ quan tạo nên các thành quả văn hóa trong môi trường đô thị; ngược lại, đô thị là nhân tố khách quan đáp ứng các nhu cầu tiện ích của đời sống, làm cho con người phát triển hoàn thiện. Đó là quan hệ biện chứng của cặp đôi, trong đó đô thị và môi trường đô thị là điều kiện để con người phát triển văn hóa, về phương diện vật chất lẫn tinh thần!

Dưới góc nhìn văn hóa, đô thị không chỉ dựa trên các yếu tố “tĩnh tại” như mức độ tập trung dân cư, mật  độ dân số, hoạt động phi nông nghiệp, cơ sở tiện ích hạ tầng kỹ thuật, để qua đó xác định cấp độ đô thị hóa, phân biệt đô thị khác với nông thôn.

Nông thôn là bộ phận hữu cơ, không tách rời môi trường đô thị. Đầu thế kỷ XVIII, dân số đô thị chỉ chiếm 10%[4], đến nay đã vượt hơn một nửa dân số thế giới. Do vậy, không thể tách biệt nông dân với thị dân[5], vì người ở nông thôn không hẳn là nông dân, chuyên làm nông nghiệp[6], trong khi người hoạt động nông nghiệp không nhất thiết ở nông thôn.

Thực ra, không gian đô thị không ngừng mở rộng, thu hẹp và triệt tiêu mọi khoảng cách, trong đó nông thôn là thực thể thống nhất hữu cơ, thuộc về môi trường cảnh quan không tách rời đô thị[7]; đô thị không phải là không gian phi sản xuất, vì sản xuất không đơn thuần làm ra sản phẩm bằng lao động hoặc “hàng hóa” sức lao động. Sản xuất trong văn hóa là hoạt động sáng tạo của cải vật chất và phi vật chất; trong kinh tế tư bản là hoạt động đầu cơ, đầu tư theo quy luật giá trị, cung cầu và tự do cạnh tranh để tìm kiếm lợi nhuận

Từ góc nhìn “động” theo quan điểm tiến hóa văn hóa, đô thị hình thành có nguồn gốc tương ứng thời kỳ cách mạng đá mới (Paul Bairoch, 1996)[8], khi con người có khả năng tác động vào môi trường tự nhiên, khai thác đất đai, sản xuất nông nghiệp, bắt đầu có của ăn của để; đô thị phát triển nhờ thị trường cung ứng hàng hóa và dịch vụ, biểu hiện các quan hệ tương tác giữa người và người.

Đến thế kỷ XVIII, 85% dân số thế giới còn trực tiếp khai thác tài nguyên tự nhiên, thuộc khu vực kinh tế thứ nhất gồm nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp, lâm nghiệp… nhưng đến đầu thế kỷ XXI chỉ còn lại ít hơn 15%. Tỷ lệ này tương ứng với động thái dân số, tập trung dân cư về đô thị trong quá trình đô thị hóa. Đô thị là nơi tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp thuộc khu vực kinh tế thứ hai, nhất là thương mại và dịch vụ thuộc khu vực kinh tế thứ ba.

Đô thị là một trong những thành quả văn hóa do con người tạo lập. Trải qua nhiều thời kỳ tăng trưởng, đô thị không đứng yên, mà phát triển tiệm tiến hoặc đột biến (mutation), với nhiều hình thái và chức năng khác nhau. Đô thị hóa là quá trình xuyên suốt, không gián đoạn, đứt quãng với các hình thái tập trung dân cư trước đó. Quá trình đô thị hóa biểu hiện những nỗ lực của con người nhằm xây dựng môi trường sống, cấu thành môi trường văn hóa đô thị.

Từ hiện tượng œkoumène[9] và động thái dân số tập trung dân cư về đô thị, loài người vẫn không ngừng lựa chọn môi trường sống thích hợp cho mình. Đô thị hóa là quy luật phát triển tất yếu, giải phóng con người khỏi lệ thuộc tự nhiên, nhưng tự nhiên vẫn là bộ phận khăng khít của môi trường đô thị.

H. Lefebvre (1972) cho rằng, xã hội tương lai không phải xã hội công nghiệp mà là xã hội đô thị. Theo M. Miles (2007), đô thị là môi trường được xây dựng làm nơi ở, làm việc, vui chơi, mua bán, hoạt động xã hội hoặc sinh hoạt chính trị; cặp đôi (dualities) văn hóa và đô thị có quan hệ biện chứng (dialectical)[10].

Như vậy, đô thị không hẳn là thực thể riêng biệt, sự kiện lịch sử hoặc hiện tượng xã hội. Đô thị là một thành tố văn hóa, thành quả của quá trình đô thị hóa gắn với các nỗ lực hoạt động của con người, nhằm phát triển môi trường văn hóa đô thị[11]. “Cặp đôi” văn hóa đô thị vừa có tính phức hợp các thành quả văn hóa, vừa tổng hòa toàn thể các hoạt động xây dựng môi trường sống của con người.

Nếu cặp đôi văn hóa văn minh đánh dấu thành quả phát triển con người qua từng thời kỳ, thì cặp đôi văn hóa đô thị biểu thị quá trình tăng trưởng môi trường sống, làm cho đời sống con người ngày càng văn minh, tiến bộ!

Ngành học “Văn hóa đô thị”

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đã có nhiều ngành khoa học nghiên cứu đô thị, hình thành các chuyên ngành lịch sử đô thị, địa lý học đô thị, xã hội học đô thị, nhân học đô thị hoặc đô thị học… Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới cũng như ở nước ta vẫn chưa có ngành học nghiên cứu đô thị hoặc môi trường đô thị dưới góc nhìn văn hóa.

Ngay từ thế kỷ V, IV trước Công nguyên, các triết gia Hippodamos, Hippocrates được coi là những người đầu tiên đưa ra ý tưởng xây dựng đô thị. Từ các quan niệm quy hoạch đô thị lý tưởng thời Platon, Aristote ở Hy Lạp cho đến thời Phục hưng ở Ý; từ các mô hình đô thị không tưởng của Thomas Moore thế kỷ XVI, Robert Owen, Charles Fourier thế kỷ XIX, đô thị vườn kết hợp nông thôn với đô thị của Ebenezer Howard, đến mô hình đô thị hiện đại của các nhà quy hoạch như Haussmann, Le Corbusier, v.v. đều thể hiện sự quan tâm sâu sắc của con người đối với môi trường sinh thái nhân văn đô thị.

Trong khi các nhà không tưởng loay hoay tìm kiếm mô hình, giải pháp xây dựng môi trường đô thị phù hợp với thời kỳ cách mạng công nghiệp, thì các nhà khoa học kể từ giữa thế kỷ XIX chịu ảnh hưởng học thuyết tiến hóa sinh học của Charles Darwin, với công trình Nguồn gốc các loài (On the origin of species, 1859), đã phác họa nguồn gốc loài người và các đặc điểm văn hóa – xã hội trên nhiều lĩnh vực của quá trình đô thị hóa.

Đó là các công trình Xã hội cổ đại (Ancient Societies, 1877) của Lewis H. Morgan, Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước (The Origin of the Family, Private Property and the State, 1884) của F. Engels; đặc biệt Edward Burnett Tylor với công trình Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture, 1871) khẳng định quá trình tiến hóa về văn hóa xã hội, phát triển kinh tế và kỹ thuật từ thời đại dã man đến văn minh… Đáng chú ý còn có các nhà khoa học chịu ảnh hưởng của trường phái mác-xít như Patrick Geddes với công trình Tiến hóa đô thị (Cities in Evolution, 1915), hoặc trường phái xã hội học đô thị Chicago xuất hiện vào những năm 1920 và 1930 ở Mỹ, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội và môi trường sinh thái đô thị.

Trong lĩnh vực văn hóa, mặc dù Geddes có thể là người đầu tiên đề cập đến văn hóa đô thị, song Lewis Mumford mới là người khai sinh ra lĩnh vực này với công trình Văn hóa đô thị (The Culture of Cities, 1938) và hàng loạt các công trình về quá trình đô thị hóa như Kỹ thuật và văn minh (Technics and Civilization, 1934), Đô thị trong lịch sử (The City in History, 1961), Kỹ thuật và sự phát triển của con người (Technics and Human Development, 1967), v.v.

Cho đến nay ở nước ngoài mới chỉ hình thành các nhóm đơn lẻ nghiên cứu văn hóa đô thị, tập trung vào các hoạt động văn hóa ở môi trường đô thị thì ở nước ta văn hóa đô thị đã sớm trở thành môn học trong một số trường đại học ở các tỉnh, thành phía Nam[12]. Dựa trên những thu hoạch bước đầu về văn hóa đô thị, chúng tôi đề xuất nghiên cứu, giảng dạy môn học này với các chủ đề trọng tâm sau:

- Đại cương văn hóa đô thị: nhận thức các cơ sở lý thuyết của khái niệm văn hóa đô thị trong khoa học xã hội và nhân văn; các phương pháp tiếp cận văn hóa đô thị và các ứng dụng trong môi trường văn hóa đô thị; bên cạnh các cơ sở thực tiễn của văn hóa đô thị trong quá trình đô thị hóa;

- Định vị văn hóa đô thị: thông qua sự biến thiên của thời gian, không gian và chủ thể văn hóa đô thị. Về thời gian, đó là quá trình vận động và chuyển hóa, làm môi trường đô thị tăng trưởng qua các thời kỳ; về không gian là quá trình tiến hóa đô thị do tác nhân hoạt động của con người, làm biến đổi không gian tự nhiên, kỹ thuật và nhân văn; đó cũng là quá trình con người xác lập vị thế chủ thể văn hóa đô thị, kế thừa các di sản, tiến hành các chính sách văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống, đáp ứng các nhu cầu đời sống vật chất lẫn tinh thần;

- Môi trường văn hóa đô thị: tổng hòa ba yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và nhân văn, trong đó môi trường tự nhiên bao gồm phức hợp hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo; môi trường kỹ thuật là các trang bị tiện ích văn minh đô thị, quy hoạch phân khu chức năng, mở rộng phạm vi đô thị; môi trường nhân văn không tách rời môi trường xã hội, đòi hỏi ý thức xây dựng môi trường đô thị phát triển bền vững.

Ngoài ra, môn học còn giới thiệu tổng quan bối cảnh, các đặc điểm văn hóa đô thị và quá trình đô thị hóa ở Việt Nam; từ đó đặt ra yêu cầu đối chiếu với thực trạng đô thị hóa, rút ra những kinh nghiệm, kiến giải hoặc ứng dụng văn hóa đô thị vào thực tiễn đời sống ở nước ta.

Ngành học Văn hóa đô thị với những tiếp cận bao quát và toàn diện như trên là nguồn bổ trợ kiến thức, trang bị nhận thức thấu đáo về đô thị và môi trường đô thị, về các thành quả văn hóa trong quá trình đô thị hóa; từ đó góp phần nâng cao ý thức về xã hội công dân, ứng dụng giải pháp cho các vấn đề xã hội và nhân văn đương đại, xây dựng môi trường văn hóa đô thị phát triển bền vững, có lẽ cần được quan tâm nhiều hơn trong nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Kết luận

Văn hóa là khái niệm phức hợp, tổng hòa toàn thể các hoạt động của con người nhằm tạo lập và phát triển đời sống. Trong cặp đôi văn hóa văn minh, văn hóa cấu thành các đặc điểm riêng, đặc thù, đặc sắc, thể hiện tính đa dạng, khác biệt, truyền thống, bản sắc; ngược lại, văn minh biểu hiện các đặc điểm chung, theo khuôn mẫu của một thời kỳ, có tính phổ quát, thống nhất, tính hiện đại, đồng nhất. Cặp đôi văn hóa đô thị có quan hệ tương tác biện chứng, vừa mang tính chủ quan của văn hóa, vừa mang tính khách quan của đô thị nhằm kiến tạo, tăng trưởng môi trường sống.

Đô thị và quá trình đô thị hóa là thành quả văn hóa, thuộc về quy luật phát triển tất yếu, làm cho đời sống con người ngày càng văn minh, tiến bộ. Văn hóa đô thị là môn học có định hướng phát triển bền vững, để mỗi người có nhận thức và ứng xử phù hợp với môi trường xã hội và nhân văn trong quá trình đô thị hóa.

TNK, 1/2018

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bairoch Paul (1996): “Cinq millénaires de croissance urbaine” (Năm thiên niên kỷ tăng trưởng đô thị), trong Sachs Ignacy (sous la dir. de), Quelles villes pour quel développement? (Đô thị phát triển như thế nào?), Paris, PUF., pp.17-60
  2. Bonnemaison Joël (2000): La géographie culturelle (Địa văn hóa), Lasseur Maud và Thibault Christel biên tập, Paris, CTHS 2000
  3. Cuche Denys (2004 [1996, 2001]): La notion de culture dans les sciences sociales (Khái niệm văn hóa trong khoa học xã hội), La Découverte, 3è éd.
  4. Lefebvre Henri (1972): “Les institutions de la société “post-technologique”” (Thiết chế xã hội “hậu công nghệ”), Espaces et Sociétés (Không gian và xã hội), Revue critique internationale de l’aménagement de l’architecture et de l’urbanisation (Tạp chí phê bình quy hoạch kiến trúc và đô thị hóa thế giới), No.5, 4/1972, pp. 53-20
  5. Lucchini Françoise (2002): La culture au service des villes (Văn hóa phục vụ đô thị), Éd. Economica
  6. Trần Ngọc Khánh (2012): Văn hóa đô thị, Nxb. Tổng hợp TPHCM.


Chú thích

[1] Jacques Rigaud (1993): “Le mécénat ou comment “désadministrer” la culture”, Revue française d’administration publique, No.65, 1-3/1993

[2] Có thể hình dung qua công đoạn dệt thổ cẩm, khi người phụ nữ luồn và dập sợi canh trùng khít lên trên bề mặt thảm sợi dọc tượng trưng thế giới tự nhiên, tạo nên các mô típ hoa văn biểu trưng thành quả hoạt động của con người, tương tác với chức năng sinh sản của người dệt. Xem: Trần Ngọc Khánh, 2003: Hoa văn thổ cẩm của người Chăm. Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV TPHCM.

[3] Xem: Trần Ngọc Khánh (1998): “Văn hóa – văn minh, tuy hai mà một”. Tạp chí Khoa học xã hội TPHCM, số 38 (IV/78), tr. 150-154.

[4] Năm 1700, dân số thế giới gồm hơn ½ tỷ (560 – 720 triệu người), thị dân chiếm khoảng 60 – 80 triệu; tỷ lệ đô thị hóa đạt 9-11%. Năm 1950, thị dân đạt 29%; dự kiến đến năm 2030 đạt 60%.

[5] Trong khi ngay ở thời kỳ các thị quốc cổ Hy Lạp, nông dân được coi là bộ phận thuộc cộng đồng thị dân, gọi chung là polis.

[6] Năm 1962 ở Pháp, 36,6% dân số còn ở nông thôn, nhưng chỉ có 18% là nông dân; năm 1970 ờ Mỹ, chỉ có 20/100 người ở nông thôn là nông dân.

[7] Ngay như ở thời kỳ các thị quốc cổ Hy Lạp, nông dân được coi là bộ phận cộng đồng thị dân, gọi là polis.

[8] Theo P. Bairoch, nếu không có cách mạng đá mới sẽ không có đô thị. Ông chia đô thị hóa gồm bốn giai đoạn: cách mạng đá mới, cách mạng đô thị, cách mạng công nghiệp và đô thị hóa hiện nay ở các nước đang phát triển.

[9] Thuật ngữ œkoumène chỉ định khu vực đất đai hoặc không gian trên bề mặt trái đất mà con người chiếm hữu sử dụng, tập trung dân cư để sinh sống.

[10] Malcolm Miles (2007): Cities and Cultures. Routledge, London and New York, p.2.

[11] Xem: Trần Ngọc Khánh (2009, 2010): “Xây dựng môi trường văn hóa đô thị - kinh nghiệm từ nước ngoài”. Tc. Văn hóa Nghệ thuật, H. số 306, 12/2009, tr. 48-53; 307, 1/2010, tr.49-56; 308, 2/2010, tr.62-66.

[12] Văn hóa đô thị là môn học dành cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ở trường Đại học KHXH&NV TPHCM, Đại học Văn hóa TPHCM, Đại học Trà Vinh… trong đó kể từ năm 2006 đã có lớp học đầu tiên của học viên cao học Văn hóa học thuộc trường ĐH KHXH&NV TPHCM.


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.