Lý Tùng Hiếu. Văn hoá Việt Nam trong ngôn ngữ

LỜI GIỚI THIỆU

Nếu như văn hoá được xem là một tổng thể các hệ thống tín hiệu do con người sáng tạo nên thì ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu tiêu biểu nhất, hoàn chỉnh nhất, cần thiết nhất để hình thành xã hội loài người, các cộng đồng tộc người. Ngôn ngữ mang tính phổ quát toàn nhân loại. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, công cụ của giao tiếp xã hội, là bộ bách khoa toàn thư ghi lại toàn bộ hoạt động của toàn dân tộc. Ngôn ngữ có thể diễn tả, giải thích các ký hiệu khác của văn hoá và sự phát triển của các hệ thống khác đều liên quan đến sự phát triển của ngôn ngữ. Sự liên quan giữa ngôn ngữ và văn hoá gắn bó tới mức không một bộ phận nào thuộc về văn hoá của một dân tộc lại có thể được nghiên cứu tách rời khỏi ngôn ngữ. Mỗi dân tộc bằng công cụ tư duy của mình đã nhận thức thế giới khách quan và phân tách thực tại theo tâm thức của họ. Qua ngôn ngữ người ta nhận diện được những nét đặc trưng của vũ trụ quan, thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi dân tộc. Là công cụ giao tiếp chủ yếu của xã hội, ngôn ngữ đã sản sinh, truyền đạt và bảo quản tất cả các hệ thống thông tin của mỗi dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngôn ngữ dân tộc tạo nên những thế giới đa màu sắc, những bức tranh toàn cảnh đa dạng với biết bao tri thức vô cùng phong phú và quý giá. Nói như người da đỏ Mixe ở Mexico: “Sẽ chẳng hay ho gì nếu để tiếng Mixe biến mất. Đó là văn hoá của chúng ta, một nền văn hoá mà chúng ta thừa hưởng của tổ tiên. Nếu ngôn ngữ này biến mất chúng ta chẳng có gì của quá khứ nữa và con em chúng ta chẳng thể nhận ra nhau” (Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 4, tháng 05/2000, trang 20).


Vì lẽ đó, ngôn ngữ được xem là đặc trưng tộc người và không phải ngẫu nhiên mà các nhà dân tộc học đã phân chia tộc người theo tiêu chí ngôn ngữ. Đó là tài sản quý giá nhất, đích thực nhất của một dân tộc. Vì vậy, nói như Ferdinand de Saussure: “Trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc”. Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ gắn liền với lịch sử dân tộc và chính nó là cuốn từ điển bách khoa ghi lại những chặng đường phát triển và sáng tạo của một dân tộc với nền văn hoá của họ. Vì thế có thể nói không có ngôn ngữ thì không có văn hoá, không có loài người. Do đó ngôn ngữ trở thành đối tượng của rất nhiều ngành khoa học liên quan đến con người và nó trở thành bộ môn chủ yếu liên ngành với các bộ môn khác như: ngôn ngữ-dân tộc học, ngôn ngữ-nhân học, ngôn ngữ-văn hoá học... Ngôn ngữ và văn hoá như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, tạo nên hình hài và bản sắc tộc người. Ngôn ngữ và văn hoá có khả năng bao quát một cách trực tiếp, đảm bảo tính bền vững mang tính kế thừa lịch sử và không bị trộn lẫn cả khi hội nhập thế giới. Như những dòng sông luôn là chính nó nhưng cũng luôn biến đổi và bền bỉ tích luỹ, thâu nhận, gạn lọc tinh hoa từ muôn dặm nẻo, không ngừng giao lưu và mở rộng để rồi kết tinh lại thành cái riêng của mình góp phần vào đại dương mênh mông đầy hương sắc của nhân loại, và đến lượt mình lại được tận hưởng những hương vị xa lạ của các dân tộc khác trong cái đại dương vĩ đại bao la đó. Cuộc đời sẽ đẹp hơn, phong phú hơn và thú vị hơn.


Chúng ta đều biết thế kỷ XX là thế kỷ thống trị của chủ nghĩa cấu trúc của ngôn ngữ học do Ferdinand de Saussure khởi xướng. Với tư duy cực đoan, ông phân biệt ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, “đối tượng duy nhất và chân thực của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó” (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, trang 393). Nhờ đó mà F. de Saussure đã xây dựng thành công ngôn ngữ học cấu trúc và phương pháp cấu trúc ngôn ngữ học trở thành mũi nhọn của khoa học xã hội và nhân văn. Nhưng ngày nay, người ta đã mở rộng việc nghiên cứu ngôn ngữ ra ngoài ngôn ngữ với phương pháp tiếp cận liên ngành, trong đó liên ngành quan trọng nhất là ngôn ngữ - văn hoá. Nơi tập trung mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá chính là trên địa hạt ngữ nghĩa bởi vì ngữ nghĩa phản ánh nội dung văn hoá trong nhận thức của con người thông qua ngôn ngữ.


Tác giả cuốn sách này là người nghiên cứu và giảng dạy nhiều năm ở các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh nên đã sớm nhận ra yêu cầu mới, đã tập trung nghiên cứu đề tài văn hoá trong ngôn ngữ từ nhiều năm qua, và đến nay đã biên soạn công trình này để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học và giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh văn hoá học và các ngành học khác. Mục tiêu của cuốn sách như tác giả đã đề ra là “không chỉ trình bày kết quả nghiên cứu như những thức ăn làm sẵn, cuốn sách ấy còn phải cung cấp cả những cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu để người học có thể vận dụng vào việc nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ từ hướng tiếp cận văn hoá học hoặc nghiên cứu văn hoá từ ngôn ngữ học”. Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, tác giả đã tập trung biên soạn bảy chương: Chương I: Cơ sở lý luận nghiên cứu văn hoá trong ngôn ngữ; Chương II: Phương pháp nghiên cứu văn hoá trong ngôn ngữ; Chương III: Một số đặc điểm không gian văn hoá Việt Nam thể hiện trong ngôn ngữ; Chương IV: Một số đặc điểm giao lưu tiếp biến văn hoá ở Việt Nam thể hiện trong ngôn ngữ; Chương V: Một số đặc điểm chủ thể văn hoá ở Việt Nam thể hiện trong ngôn ngữ; Chương VI: Một số đặc điểm văn hoá vật thể ở Việt Nam thể hiện trong ngôn ngữ; Chương VII: Một số đặc điểm văn hoá phi vật thể ở Việt Nam thể hiện trong ngôn ngữ.


Ngoài hai chương đầu, trong năm chương kế tiếp, tác giả đã phân tích các trường ngữ nghĩa của ngôn ngữ với các trường văn hoá Việt Nam như: văn hoá trong từ ngữ môi trường sinh thái; văn hoá trong địa danh; nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt; tiếp biến văn hoá trong tiếp xúc ngôn ngữ Tày cổ - Việt-Mường; tiếp biến văn hoá trong tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt; tiếp biến văn hoá trong tiếp xúc ngôn ngữ Chăm - Việt; tiếp biến văn hoá trong tiếp xúc ngôn ngữ Khmer - Việt; tiếp biến văn hoá trong tiếp xúc ngôn ngữ Pháp - Việt; văn hoá trong phương ngữ địa lý; văn hoá trong tộc danh; văn hoá trong thị danh; văn hoá trong nhân danh; văn hoá trong từ ngữ nông nghiệp; văn hoá trong từ ngữ đo lường; văn hoá trong ngôn ngữ quảng cáo; văn hoá trong văn tự; văn hoá trong từ ngữ tổ chức cộng đồng; văn hoá trong danh từ thân tộc; văn hoá trong từ ngữ giao tiếp; văn hoá trong phương ngữ xã hội.


Lần đầu tiên trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học, chúng ta có một cuốn sách Văn hoá Việt Nam trong ngôn ngữ có tính hệ thống từ nội dung đến phương pháp nghiên cứu. Đây là một công trình nghiên cứu hoàn toàn mới ở Việt Nam. Tôi đánh giá cao những nỗ lực của tác giả và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc, với các bạn sinh viên, học viên, và nghiên cứu sinh trong cả nước. Tôi hy vọng thông qua việc giảng dạy và vận dụng vào thực tiễn, cuốn sách sẽ được bổ sung để ngày càng hoàn thiện và trở thành giáo trình chính thức của một bộ môn mới trong trường đại học.


GS.TS. PHẠM ĐỨC DƯƠNG
(Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á)



LỜI TÁC GIẢ

Tôi ấp ủ công trình này đã hơn ba chục năm qua, kể từ chuyến khảo sát điền dã lần đầu tiên ở Tây Nguyên năm 1985 để thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học với người hướng dẫn là thầy Trần Chút, Phó trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh lúc ấy. Tiếp xúc với văn hoá và ngôn ngữ của các tộc người Brũ, Kađô, Bahnar, Sedang, Êđê tại địa bàn điền dã, tôi vô cùng vui sướng vì tìm được cho mình con đường ứng dụng những tri thức ngôn ngữ học hàn lâm mà nhà trường trang bị. Con đường ấy đã mở ra cho tôi từ năm 1978, khi người thầy ngôn ngữ học đầu tiên của tôi, thầy Bùi Khánh Thế, gieo vào lòng chúng tôi niềm đam mê đối với ngôn ngữ học, một khoa học khô khan nhưng chính xác, có tiềm năng bổ khuyết cho các ngành khoa học khác trong việc nghiên cứu văn hoá - lịch sử các tộc người và văn hoá - lịch sử Việt Nam.


Để có thể đi xa trên con đường ấy, tôi cần phải tìm thêm người dìu dắt. Và nhờ may mắn, tôi đã tìm được người thầy kế tiếp là GS.TS. Phạm Đức Dương, khi ông vào Sài Gòn thỉnh giảng tại Khoa Đông Nam Á, Trường Đại học Mở - Bán công TP. Hồ Chí Minh vào năm 2000. Từ lúc ấy cho đến khi làm Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp nhà nước của tôi vào năm 2007, GS.TS. Phạm Đức Dương đã khai tâm cho tôi nhiều tri thức về các ngôn ngữ Mon-Khmer, Việt-Mường, về dân tộc-ngôn ngữ học, văn hoá học, văn hoá vùng và văn hoá tộc người. Sau lễ bảo vệ luận án, ông đã khuyên tôi chuyển thể luận án thành một cuốn sách chuyên khảo về văn hoá trong ngôn ngữ. Tôi trân trọng lời khuyên ấy, nhưng không vội vã.


Phải đến năm 2008, khi được Khoa Văn hoá học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Khoa Văn hoá học của Trường Đại học Văn hiến giao nhiệm vụ giảng dạy các môn học Văn hoá Việt Nam qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ và văn hoá, tôi mới nhận thấy tính cấp thiết của việc biên soạn một công trình chuyên khảo về văn hoá trong ngôn ngữ. Vì người học và những bạn đọc quan tâm đến các thông điệp văn hoá trong ngôn ngữ rất cần một cuốn sách như vậy.

Đó là một cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản, có tính hệ thống về mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hoá, về những thông điệp văn hoá tàng chứa trong các ngôn ngữ tộc người như những dấu chỉ về nguồn cội, về văn hoá và quá trình tiếp biến, tiến hoá của các tộc người và của quốc gia dân tộc Việt Nam. Và không chỉ trình bày kết quả nghiên cứu như những thức ăn làm sẵn, cuốn sách ấy còn phải cung cấp cả những cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu để người học có thể vận dụng vào việc nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ từ hướng tiếp cận văn hoá học hoặc nghiên cứu văn hoá từ ngôn ngữ học.

Với nội dung như vậy, cuốn sách sẽ có thể có ích cho nhiều giới xã hội khác nhau, đặc biệt là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các ngành văn hoá học, ngôn ngữ học, Việt ngữ học, tiếng Việt cho người nước ngoài, nhân học, dân tộc học, Việt Nam học, sử học, xã hội học, khi họ tiếp cận lãnh vực văn hoá trong ngôn ngữ ở Việt Nam.


Xác định được đối tượng, mục tiêu, tôi đã tăng cường tích luỹ tư liệu và bắt tay soạn sách. Loại tư liệu được tôi ưu tiên tích luỹ là các tư liệu sơ cấp về văn hoá và ngôn ngữ của các tộc người mà tôi đã trực tiếp thu thập từ 35 chuyến khảo sát điền dã tại 22 tỉnh thành ở ba miền Bắc - Trung - Nam từ năm 1983 đến năm 2014: Việt, Brũ, Sedang, Bahnar, Jrai, Êđê, M’nông, Chrau, Chăm, Khmer. Kế tiếp là các từ điển, các công trình nghiên cứu liên quan của những người đi trước, bao gồm tư liệu về những địa bàn và những tộc người mà tôi không có điều kiện khảo sát trực tiếp. Và để chuẩn bị cho các chương mục của cuốn sách, tôi tiếp tục biên soạn và công bố các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hoá tộc người và lịch sử địa phương.


Trong sách, các khái niệm biểu thị bằng các ngôn ngữ tộc người được đánh dấu bằng gạch dưới, bên cạnh là phần chú nghĩa tiếng Việt đặt trong ngoặc kép.


Nhân dịp cuốn sách được hoàn thành, xin cho phép tôi bày tỏ lòng tri ân đối với cố GS.TS. Phạm Đức Dương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á. Là người gợi ý, GS.TS. Phạm Đức Dương cũng là người đỡ đầu cho cuốn sách này với những góp ý cụ thể về nội dung, phương pháp, và với Lời giới thiệu mà tôi sở cậy để làm vinh dự cho cuốn sách.


Xin trân trọng cảm ơn GS.TS. Bùi Khánh Thế, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học Ngoại ngữ-Tin học TP. Hồ Chí Minh, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, người đã mở đường và giúp tôi đi nốt hành trình ngôn ngữ học với việc hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi trong những năm 1999-2007. Đối với cuốn sách này, GS.TS. Bùi Khánh Thế là người cung cấp cho tôi các tài liệu về lịch sử hình thành ngôn ngữ học nhân học, nhân học ngôn ngữ ở Bắc Mỹ, và làm chủ tịch hội đồng nghiệm thu một đề tài nghiên cứu cấp viện của tôi về ngôn ngữ học nhân học, đặt cơ sở cho chương I của cuốn sách.


Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Văn Huệ, nguyên Trưởng khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, người đã sát cánh cùng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu nêu trên, và cung cấp cho tôi các tài liệu về ngôn ngữ học nhân học và nhân học ngôn ngữ ở Bắc Mỹ, châu Âu.


Xin trân trọng cảm ơn Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Trong phiên họp thẩm định ngày 26/11/2018 dưới sự chủ trì của TS. Lê Thị Ngọc Điệp, Trưởng khoa, các thành viên của Hội đồng như PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng, TS. Trần Ngọc Khánh, GS.TS. Phan Thị Thu Hiền, TS. Nguyễn Văn Hiệu, TS. Trần Long, TS. Trần Phú Huệ Quang đã cung cấp cho chúng tôi nhiều góp ý giá trị về phương pháp luận và hình thức của cuốn sách.


Tôi xin dành tặng cuốn sách này cho hôn thê và các thân hữu của tôi, những người đã giúp tôi vượt qua những tháng năm gian khổ để theo đuổi con đường học thuật gập ghềnh, quanh co, tốn kém.


Mặc dù có những sự giúp đỡ ấy, chịu trách nhiệm trước bạn đọc về chất lượng khoa học của cuốn sách vẫn là tác giả. Kính mong các nhà nghiên cứu, quý vị giảng viên, các bạn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và bạn đọc gần xa đón nhận cuốn sách này như một kết quả của nhiệt tâm khoa học, và vui lòng góp ý cho những hạn chế không thể tránh khỏi. Các ý kiến đóng góp, xin vui lòng gởi đến địa chỉ của tác giả: 392/8/110 Cao Thắng, P.12, Q.10, TP. Hồ Chí Minh; email: lytunghieu@gmail.com. Tác giả trân trọng cảm ơn và sẽ lưu ý những góp ý ấy khi có dịp tái bản.


TS. LÝ TÙNG HIẾU
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.